Khám phá nghệ thuật trà đạo của Nhật Bản và Trung Hoa

Nhà bếp phong thủy

Trong đời sống của người Việt, chén trà hay ly cà phê đã trở thành một thức uống quá đỗi quen thuộc. Người ta gặp nhau, nhâm nhi thứ chan chát, đăng đắng đó mà làm nên bao tình bạn đẹp. Trà được đưa vào trong thi ca, nhạc họa và trở thành một thức uống không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Trên thế giới, có rất nhiều nền văn hóa về trà đạo khác nhau. Trong đó, không thể không nhắc đến Nhật Bản và Trung Hoa. Vậy, có gì đặc sắc trong nghệ thuật trà đạo Nhật Bản và Trung Hoa? Hãy cùng Thiên Mộc Hương khám phá rõ hơn ở bài viết dưới đây.

I. Nghệ thuật trà đạo của Trung Hoa

1. Sự hình thành

Nền văn hóa Trung Hoa cổ đại được xem là nơi khởi nguồn của nghệ thuật trà đạo ngày nay. Trà ban đầu được xem là một loại thuốc. Sau đó, nó trở thành một thức uống thứ thiệt rồi được nâng tầm thành thứ nghệ thuật tinh tế. Sự phát triển của loại hình nghệ thuật này đã trải qua đến ba giai đoạn hình thành: dùng trà bánh để nấu; trà bột khuấy lên và trà ngâm.

Thời Đường được xem là đỉnh cao của nghệ thuật uống trà bánh. Tại thời điểm này, bộ sách “Trà kinh” của Lục Vũ ra đời. Nó được xem là bộ sách trà học đầu tiên trên thế giới, mở đầu cho nghệ thuật uống trà của Trung Quốc. Văn hóa uống trà từ đây mà được hình thành nên.

Giai đoạn thứ 2 là dùng trà bột để khuấy. Người ta bắt đầu chuyển từ trà bánh sang trà bột vào đời nhà Tống (907 – 1279).

Đến thế kỉ thứ XIII, nền văn hóa Tống, trong đó có nghi lễ uống trà đã bị tàn phá do cuộc chiến xâm lược và sự cai trị của quân Nguyên. Nghệ thuật này bị suy vi và phải đến thời nhà Minh mới được phục hồi phần nào. Minh Thái Tổ là người đầu tiên nghĩ ra cách uống trà như ngày nay: pha búp trà.

2. Nét đặc trưng trong cách thưởng trà

“Lục trà” đã ghi rõ việc uống trà phải bao gồm 4 yếu tố : khí, thủy, hỏa, sự. Cụ thể, Khí là dụng cụ uống trà; Thủy là nước pha trà; Hỏa là lửa đun trà; Sự là người pha trà, uống trà, thời điểm uống trà. Trong giai đoạn dùng trà bánh, việc pha trà có phần khá cầu kì. Người ta đem hong bánh trà trên bếp lửa cho đến khi thật mềm rồi nghiền vụn ra. Dùng nước trên núi là tốt nhất để đun lên. Khi nước sôi lăn tăn thì cho một chút muối vào. Người pha trà cần cảm nhận được nước reo nghe như tiếng suối, bọt nước giống hạt ngọc bằng pha lê thì mới cho trà vào. Khi thấy sóng nước sủi sùng sục thì đổ một thìa nước lã vào để trấn trà.

Giai đoạn dùng trà bột có sự phân tầng trong hình thức thưởng trà giữa các tầng lớp xã hội. Nhà vua và quan triều đình thì thưởng những loại trà đặc biệt ở vùng riêng, do quan chức dâng lên. Còn các nhà giàu, địa chủ thì tập hợp tại nơi dành riêng cho việc tiến hành lễ trà, tô chức ra những cuộc thi đấu trà.

Nét đặc trưng trong nghệ thuật thưởng trà của Trung Hoa và Nhật Bản
Nét đặc trưng trong nghệ thuật thưởng trà của Trung Hoa và Nhật Bản

Có 30 điều nên có và 7 điều cấm kị trong các tình huống khác nhau khi dùng trà rời. Khi uống, người uống thường bình phẩm về màu sắc, mùi vị, tranh luận về trà. Nước đun phải là nước suối. Điểm đặc biệt gắn với việc uống trà thời điểm này chính là ca hát. Sử sách có ghi lại, việc thưởng trà, thưởng rượu đều kết hợp với ca hát dân gian. Ngày nay, trà với người Trung Hoa vẫn là thức uống ưa thích. Nhưng những nghi lễ như thời Đường, Tống đã không còn.

II. Nghệ thuật trà đạo của Nhật Bản

1. Nguồn gốc trà đạo Nhật Bản

Nghệ thuật trà đạo có lẽ là nét văn hóa đọc đáo làm nên văn hóa Nhật Bản. Tuy nhiên, ít ai biết rằng, trà đạo được truyền bá từ Trung Quốc sang Nhật. Hình thức Tocha (đấu trà) đã lan sang Nhật vào cuối thời Kamakura và phát triển mạnh mẽ. Song, khi đến Nhật, Tocha đã ít nhiều có sự thay đổi để phù hợp với bản sắc nơi đây. Người Nhật sau khi thưởng trà sẽ đoán xem đâu là honcha và đâu là hicha. Người chiến thắng sẽ nhận được giải thưởng. Ban đầu, người ta chỉ chơi cho vui nhưng sau này họ chuyển sang ăn tiền, cá cược với nhau.

Dưới ảnh hưởng của tầng lớp Samurai, nghi thức uống trà đã hình thành nên những quy tắc rất tỉ mỉ và buộc phải tuân theo. Đây được xem là những cơ sở đầu tiên của nghệ thuật trà đạo Nhật Bản ngày nay.

Song, phải đến thế kỷ XV, dưới thời Ashikaga Yoshimasu thì những nghi thức thưởng trà mới được hoàn thiện. Chúng được ghi chép lại để truyền bá thành những trường phái đặc biệt.

2. Ý nghĩa của nghệ thuật trà đạo trong văn hóa, đời sống người Nhật

Ban đầu, Trà đạo chỉ phổ biến trong giới tăng lữ quý tộc. Về sau, chúng được phát triển ra toàn xã hội và phổ biến khắp nơi. Do chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền mà tôn chỉ của trà đạo là sự đơn giản, thanh tịnh. Mục đích cao nhất là để con người rũ bỏ được những muộn phiền trong đời sống, hòa hợp với thiên nhiên. Nhờ môn phái nghệ thuật này, con người có thể đắm chìm hơn, biết quan sát những sự vật sống trong tự nhiên, vận dụng tốt các giác quan của mình. Họ có thể ngửi mùi chè, cảm nhận vị ngọt thanh chan chát của nó,…

Bên cạnh đó, môn nghệ thuật này cũng góp một phần quan trọng trong tinh hoa văn hóa của người Nhật. Nó nói lên sự tỉ mẩn, tinh tế trong mọi chi tiết, đường nét. Đây là thứ để Nhật Bản được đông đảo bạn bè thế giới biết đến.

Bên cạnh nghệ thuật trà, Hương đạo cũng là một trong số các tinh hoa của văn hóa Nhật. Trầm Hương vốn dĩ có mùi thơm đặc biệt, tốt cho sức khỏe, tẩy uế không gian. Nhưng qua bộ môn Hương đạo, nó mới thực sự bộc bạch hết giá trị của mình. Người ta nếm hương trầm mà thấm được cái tính cay, vị ngọt, mà dịu ấm của nó. Sau đó, họ sẽ đánh giá chất lượng của từng loại Trầm được đốt. Đây là một thú vui thanh tao của người Nhật bên cạnh trà đạo.

Hương đạo là một nét đặc sắc của văn hóa Nhật bên cạnh trà đạo Nhật Bản
Hương đạo là một nét đặc sắc của văn hóa Nhật bên cạnh trà đạo Nhật Bản

>> Xem thêm: Nhang Trầm cao cấp có gì khác biệt?

3. Nét đặc trưng trong văn hóa trà đạo Nhật Bản

Nghệ thuật trà đạo của Nhật Bản đạt đến đỉnh cao của sự tinh tế là bởi mọi chi tiết nhỏ đều được cân nhắc và lựa chọn rất kỹ. Tại Nhật, có hai nghi thức trà đạo : senchado (dùng lá trà) và matchado ( dùng bột trà). Tuy nhiên, Matchado hay còn gọi là Chanoyu mới là nghi thức thưởng trà điển hình.

  • Chuẩn bị

Thứ nhất là không gian (trà thất): kích thước bằng bống chiếc chiếu rưỡi, đủ cho không quá 5 người; một phòng để rửa và sắp xếp bộ trà trước khi bưng vào trà thất; 1 hành lang và 1 lối đi dẫn đến trà thất. Về trà cụ phải gồm bát để pha và uống trà; hộp đựng trà bột; chổi khuấy trà bằng tre; thìa tre để xúc trà. Về trang phục cần phải khiêm tốn, tao nhã, nên mặc Kimono.

  • Các nghi lễ

Khách phải làm lễ tẩy trần (rửa tay, xúc miệng) trước khi vào trà thất. Và khi bước vào phải cúi đầu để thể hiện sự trân trọng. Họ sẽ có một bữa ăn nhẹ (ăn ngọt) trước khi thưởng trà.

Sau đó, khách sẽ nghỉ ngơi một phút. Chủ nhân mời khách ra sân ngắm hoa trong lúc mình chuẩn bị.

Lễ dâng trà: chủ nhân dùng chày gỗ gõ vào khánh động để bắt đầu lễ chính. Khách phải đứng dậy lại hồ nước để tẩy trần một lần nữa rồi vào trà thất . Bát trà được tráng bằng nước nóng và lau khô. Sau đó, họ sẽ lấy khăn lau hộp đựng trà và thìa tre, chổi tre thì cho vào nước nóng. Tiếp theo, lấy thìa tre xúc 3 thìa trà ra bát; lấy gáo tre múc nước sôi nhưng chỉ rót 1/3 vào bát đựng trà. Sau đó, dùng chổi khuấy cho tan đến khi sền sệt là được.

Sau khi dùng mứt, khách sẽ đến quỳ, đỡ bát trà từ tay người phụ tá và nâng lên. Vị khách này phải cúi đầu chào người khác rồi mới đặt bát trà vào lòng bàn tay trái. Ông nhấp một hợp, ngưng lại gật đầu ra dấu trà ngon, hớp thêm một vài hớp nhỏ rồi lấy khăn lau miệng bát chỗ mình uống cho sạch. Tiếp đó, ông chuyền cho vị khách bên cạnh. Cứ như thế, đến người cuối cùng thì trả lại cho người đầu tiên để trao trả cho chủ nhân.

Qua đây, có thể thấy được những nét đặc trưng trong nghệ thuật trà đạo Nhật Bản và Trung Hoa. Chúng tôi hy vọng đã mang đến cho các bạn những thông tin thú vị về nét văn hóa này.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *